Chào mừng

Những quy định mới về quản lý đo lường trong hoạt động kinh doanh vàng và chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ

Đăng lúc: Thứ tư - 11/12/2013 20:47 - Người đăng bài viết: NHNN-KH
Những quy định mới về quản lý đo lường trong hoạt động kinh doanh vàng và chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ (29/11/2013)
 
Thực hiện quy định tại Nghị định 24/2012/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, trên cơ sở quy định của Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, Luật Đo lường, ngày 26/9/2013, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 22/2013/TT-BKHCN quy định về quản lý đo lường trong hoạt động kinh doanh vàng và quản lý chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị trường (sau đây viết tắt là Thông tư 22). Thông tư 22 có hiệu lực từ ngày 01/6/2014 và được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nhập khẩu, xuất khẩu, sản xuất, mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ, kinh doanh mua, bán vàng miếng (sau đây viết tắt là tổ chức, cá nhân kinh doanh vàng). Thông tư 22 là văn bản pháp lý đầu tiên quy định về quản lý chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ và quản lý đo lường trong hoạt động kinh doanh vàng, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tăng cường quản lý đối với thị trường vàng trang sức mỹ nghệ (TSMN) theo hướng bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng. Bài viết dưới đây xin được giới thiệu một số nội dung cơ bản của cơ chế quản lý về đo lường trong hoạt động kinh doanh vàng và quản lý chất lượng vàng TSMN.
1. Về quản lý đo lường trong hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu, sản xuất, mua, bán vàng TSMN; kinh doanh mua, bán vàng miếng
Thông tư 22 quy định các tổ chức cá nhân nhập khẩu, xuất khẩu, sản xuất, mua, bán vàng TSMN; kinh doanh mua, bán vàng miếng phải thực hiện các yêu cầu về đo lường như sau:
Thứ nhất, cân được sử dụng để xác định khối lượng vàng hoặc hàm lượng vàng trong mua, bán giữa các tổ chức, cá nhân phải có: (i) Phạm vi đo và độ chính xác phù hợp với khối lượng vàng cần đo; (ii) Mức cân phải có giá trị độ chia điểm phù hợp với quy định tại Thông tư 22; (iii) Cân cần được kiểm định tại tổ chức kiểm định được công nhận hoặc chỉ định theo quy định pháp luật về đo lường, chứng chỉ kiểm định (dấu kiểm định, tem kiểm định, giấy chứng nhận kiểm định) phải còn thời hạn giá trị.
Thứ hai, quả cân hoặc bộ quả cân được sử dụng kèm với cân để xác định khối lượng vàng trong mua bán hoặc để định kỳ kiểm tra cân phải đảm bảo yêu cầu: (i) Có khối lượng danh định và độ chính xác phù hợp với cân được sử dụng kèm hoặc cần kiểm tra; (ii) Phải được kiểm định tại tổ chức kiểm định được chỉ định hoặc tổ chức được công nhận khả năng kiểm định phương tiện đo theo quy định pháp luật về đo lường; chứng chỉ kiểm định phải còn thời hạn giá trị.
Thứ ba, khối lượng vàng trong mua, bán với tổ chức, cá nhân hoặc trong thanh tra, kiểm tra không được nhỏ hơn khối lượng công bố. Giới hạn sai số của kết quả phép đo khối lượng vàng phải đảm bảo yêu cầu quy định tại Thông tư 22.
Thứ tư, cân phải được người sử dụng tự kiểm tra ít nhất một tuần một lần.
2. Về yêu cầu về chất lượng đối với vàng TSMN
Theo Thông tư 22, vàng TSMN là các sản phẩm vàng có hàm lượng vàng từ 8 Kara (tương đương 33,3%) trở lên, đã qua gia công, chế tác để phục vụ nhu cầu trang sức, trang trí mỹ thuật. Đồng thời, Thông tư 22 quy định rõ chất lượng vàng TSMN được phân hạng theo độ tinh khiết của vàng tương ứng với hàm lượng vàng. Trong đó, (i) “hàm lượng vàng” hay còn gọi là tuổi vàng là thành phần phần trăm (%) tính theo khối lượng vàng có trong thành phần chính của sản phẩm vàng TSMN; (ii) “độ tinh khiết” là số phần của kim loại vàng (tính theo khối lượng) trong một nghìn (1000) phần của hợp kim vàng; (iii) “Kara” là số phần của kim loại vàng (tính theo khối lượng) trong hai mươi bốn (24) phần của hợp kim vàng; (iv) “vàng tinh khiết” là kim loại vàng có độ tinh khiết lớn hơn 999 phần nghìn (‰) tính theo khối lượng.
Thông tư 22 quy định việc phân hạng theo độ tinh khiết của vàng TSMN như sau:
Kara (K) Độ tinh khiết, ‰ không nhỏ hơn Hàm lượng vàng, % không nhỏ hơn
24K 999 99,9
23K 958 95,8
22K 916 91,6
21K 875 87,5
20K 833 83,3
19K 791 79,1
18K 750 75,0
17K 708 70,8
16K 667 66,6
15K 625 62,5
14K 585 58,3
13K 541 54,1
12K 500 50,0
11K 458 45,8
10K 416 41,6
9K 375 37,5
8K 333 33,3
  
Khi thực hiện phân hạng theo Kara thì vàng TSMN được phân hạng theo hạng thấp hơn liền kề với giá trị Kara thực tế (ví dụ vàng trang sức 19,5K thì xếp vào loại vàng 19K); trường hợp phân hạng theo độ tinh khiết hoặc hàm lượng vàng thì giá trị công bố phải đúng với giá trị thực tế (ví dụ hàm lượng vàng là 87,0% thì công bố là 87,0% hoặc 870). Thông tư 22 cũng có quy định về phân loại vàng TSMN khi vàng TSMN có nhiều hơn một bộ phận chính là hợp kim vàng; việc sử dụng kim loại nền bằng hợp kim khác với hợp kim vàng để tăng cường độ bền cơ lý; việc sử dụng vật liệu phủ bằng kim loại (khác với vàng) hay phi kim loại với mục đích trang trí, việc yêu cầu công bố khi sử dụng vật liệu hàn không phải là hợp kim vàng hoặc thay thế bằng keo dán, sản phẩm vàng TSMN nếu có sử dụng vật liệu nhồi hoặc làm đầy chỗ trống, sản phẩm không được làm toàn bộ từ hợp kim vàng. Đặc biệt, Thông tư 22 quy định thành phần của vàng TSMN không được chứa các thành phần độc hại hoặc gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng vượt quá ngưỡng cho phép theo quy định hiện hành.
3. Về công bố tiêu chuẩn áp dụng đối với vàng TSMN
Thông tư 22 quy định vàng TSMN chỉ được phép lưu thông trên thị trường khi đã có công bố tiêu chuẩn áp dụng và ghi nhãn.
Theo Thông tư 22, tiêu chuẩn công bố áp dụng là tập hợp các thông số kỹ thuật và thông tin bắt buộc (thông tin về sản phẩm, nhà sản xuất, phân phối như tên hàng hóa, tên, địa chỉ nhà sản xuất, phân phối, nhãn hiệu hàng hóa, mã ký hiệu sản phẩm, ...; thông tin về yêu cầu kỹ thuật như khối lượng vàng hoặc thành phần hợp kim có chứa vàng, hàm lượng vàng, kiểu sáng, kích cỡ, vật liệu gắn lên vàng, ký hiệu đối với vàng TSMN, mô tả đặc điểm riêng của vàng TSMN...; ghi ký hiệu đối với sản phẩm vàng TSMN) hoặc nội dung cần thiết khác về sản phẩm vàng TSMN do tổ chức, cá nhân kinh doanh vàng tự công bố dựa trên tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn cơ sở.
Việc công bố tiêu chuẩn áp dụng đối với vàng TSMN do tổ chức, cá nhân kinh doanh vàng tự thực hiện theo một trong các cách sau: (i) Trên bảng niêm yết giá vàng TSMN, (ii) Trên bao bì của sản phẩm vàng TSMN; (iii) Trên nhãn hàng hóa của sản phẩm vàng TSMN; (iv) Trên tài liệu kèm theo sản phẩm vàng TSMN.
4. Về ghi nhãn đối với vàng TSMN
Thông tư 22 quy định: (i) Việc ghi nhãn vàng TSMN phải được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 89/2006/NĐ-CP của Chính phủ về nhãn hàng hóa; (ii) Vị trí nhãn vàng TSMN được thực hiện theo quy định tại Điều 6 Nghị định 89/2006/NĐ-CP; (iii) Nhãn vàng TSMN phải được thể hiện trực tiếp trên sản phẩm bằng phương pháp thích hợp hoặc thể hiện trên tài liệu đính kèm sản phẩm; (iv) Độ tinh khiết hay hàm lượng vàng phải được ghi rõ tại vị trí dễ thấy trên sản phẩm hoặc ghi trên nhãn đính kèm trong trường hợp sản phẩm có kích thước không thể thể hiện trực tiếp; (v) Đối với vàng TSMN nhập khẩu, ngoài nhãn gốc ghi bằng tiếng nước ngoài, phải có nhãn phụ bằng tiếng Việt thể hiện thông tin ghi nhãn và xuất xứ hàng hóa.
Về nội dung ghi nhãn, Thông tư 22 quy định nội dung ghi nhãn như sau: (i) nhãn đính kèm sản phẩm vàng TSMN phải bao gồm các nội dung như tên hàng hóa, tên, mã ký hiệu của tổ chức, cá nhân sản xuất, hàm lượng vàng, khối lượng vàng, khối lượng của vật gắn trên vàng TSMN, ký hiệu của sản phầm vàng TSMN; (ii) Ghi nhãn trực tiếp trên sản phẩm vàng TSMN gồm mã ký hiệu sản phẩm, hàm lượng vàng, ký hiệu của sản phẩm vàng TSMN.
5. Về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh vàng
Theo Thông tư 22, trách nhiệm của tổ chức cá nhân liên quan đến hoạt động đo lường trong kinh doanh vàng bao gồm: (i) Tuân thủ và thực hiện các quy định về đo lường quy định tại Thông tư 22; (ii) Tuân thủ quy định về sử dụng đơn vị đo; thực hiện đúng nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về đo lường khi tham gia hoạt động đo lường trong sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ và kinh doanh mua, bán vàng miếng; (iii) Thực hiện các biện pháp theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về đo lường để người có quyền và nghĩa vụ liên quan có thể kiểm tra phương pháp đo, kết quả đo khối lượng vàng cung cấp cho khách hàng; (iv) Lưu giữ hồ sơ tự kiểm tra đối với cân, quả cân và thiết bị xác định hàm lượng vàng theo quy định; (v) Chịu sự thanh tra, kiểm tra về đo lường theo quy định của pháp luật và tuân thủ quyết định kiểm tra, thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh mua, bán vàng TSMN, Thông tư 22 quy định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân này như sau: (i) Tuân thủ và thực hiện các quy định về quản lý đo lường và chất lượng theo quy định tại Thông tư 22; (ii) Chỉ kinh doanh vàng TSMN phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng và được đóng mã ký hiệu, hàm lượng vàng trên từng sản phẩm; (iii)Phải thực hiện công bố tiêu chuẩn áp dụng và ghi nhãn theo quy định tại Thông tư 22; niêm yết công khai tại nơi kinh doanh tiêu chuẩn công bố áp dụng để người tiêu dùng biết, lựa chọn khi mua, bán; (iv) Phải lưu giữ hồ sơ chất lượng vàng TSMN theo quy định (Kết quả kiểm tra, thử nghiệm hàm lượng vàng theo tiêu chuẩn công bố; Tiêu chuẩn công bố áp dụng; Tài liệu, bằng chứng về việc ghi nhãn đối với vàng TSMN theo quy định (ví dụ: nhãn hàng hóa được đính kèm sản phẩm; ảnh chụp mẫu sản phẩm có thể hiện phần ký hiệu ghi nhãn; giấy biên nhận kiêm bảo hành hàng hóa có các thông tin liên quan đến nội dung ghi nhãn...); (v) Chịu trách nhiệm và bảo đảm chất lượng vàng TSMN bán cho người tiêu dùng phù hợp với tiêu chuẩn công bố, các quy định của pháp luật có liên quan; (vi) Chịu sự thanh tra, kiểm tra về chất lượng và ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật và tuân thủ quyết định thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ngoài ra, Thông tư 22 còn quy định về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về đo lường và chất lượng trong hoạt động kinh doanh vàng. Các quy định này đã góp phần tăng tính nghiêm minh và nâng cao tinh thần trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan khi thực thi Thông tư 22.
Đậu Thị Mai Hương - PC
 Thông tư số 22/2013/TT-BKHCN
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa

1. Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng Việt Nam:  Ngày 06/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam - Ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Châu Á. Sự kiện trọng đại này đã mở đầu cho một thời kỳ lịch sử vẻ vang...

Đăng nhập

Thông tin khác

Bộ đếm

  • Đang truy cập: 36
  • Khách viếng thăm: 35
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 1890
  • Tháng hiện tại: 50029
  • Tổng lượt truy cập: 1899624

Liên kết Website

Doanh nghiệp và Ngân hàng

Kết nối Doanh nghiệp và Ngân hàng