Khắc phục hậu quả bảo số 12

Cơ chế mua bán, xử lý nợ xấu của VAMC

Đăng lúc: Thứ ba - 17/12/2013 19:31 - Người đăng bài viết: NHNN-KH
            Để tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai hoạt động mua bán, xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) theo quy định tại Nghị định 53/2013/NĐ-CP, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 06/9/2013 quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của VAMC (Thông tư 19). Thông tư 19 có hiệu lực từ ngày 15/9/2013. Thông tư 19 cùng với Nghị định 53/2013/NĐ-CP, Thông tư 20/2013/TT-NHNN về cho vay tái cấp vốn trên cơ sở trái phiếu đặc biệt đã tạo lập cơ sở pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho hoạt động mua bán, xử lý nợ xấu của công ty VAMC. Sau khi Thông tư 19 có hiệu lực, thời gian vừa qua, VAMC đã tiến hành mua các khoản nợ xấu đầu tiên từ một số ngân hàng thương mại. Bài viết dưới đây xin giới thiệu về cơ chế mua bán, xử lý nợ xấu của VAMC theo quy định tại Thông tư 19.

1. Về hình thức mua bán nợ xấu

Theo quy định tại Thông tư 19, VAMC có thể thực hiện mua bán nợ xấu theo một trong hai hình thức: (i) Mua bán nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt; và (ii) Mua bán nợ xấu theo giá thị trường.

2. Về nguyên tắc mua bán nợ xấu

Theo quy định của Thông tư 19, việc mua bán nợ xấu của VAMC được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây: (i) Công khai, minh bạch; (ii) Tuân thủ đúng quy định của pháp luật và hợp đồng mua, bán nợ; (iii) Hạn chế rủi ro và chi phí trong mua, bán nợ xấu; (iv) Việc mua, bán nợ xấu được thực hiện đối với từng khoản nợ xấu hoặc theo từng khách hàng vay trong trường hợp khách hàng vay có nhiều khoản nợ xấu tại một tổ chức tín dụng hoặc theo từng nhóm khách hàng vay trong trường hợp một tài sản bảo đảm cho các khoản nợ xấu của nhiều khách hàng tại một tổ chức tín dụng hoặc theo hình thức khác do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Thông tư 19 cũng quy định rõ khi thực hiện mua bán nợ xấu giữa VAMC và TCTD, toàn bộ các quyền và lợi ích gắn liền với khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm và biện pháp bảo đảm khác cho khoản nợ xấu được bên bán nợ giữ nguyên hiện trạng và chuyển giao cho bên mua nợ theo hợp đồng mua bán nợ.

3. Về điều kiện đối với các khoản nợ xấu được VAMC mua bằng trái phiếu đặc biệt

Thông tư 19 quy định các khoản nợ xấu được VAMC mua bằng trái phiếu đặc biệt (TPĐB) phải đáp ứng các điều kiện sau: Thứ nhất, phạm vi các khoản nợ xấu được mua là: (i) Các khoản nợ xấu trong các hoạt động cấp tín dụng, bao gồm các khoản nợ xấu cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán và các khoản nợ xấu khác theo quy định của NHNN; (ii) Khoản mua trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch trên thị trường của các công ty đại chúng chưa niêm yết do TCTD bán nợ mua đã quá hạn thanh toán một phần hoặc toàn bộ nợ gốc, lãi từ 90 ngày trở lên; hoặc chưa quá hạn hoặc quá hạn dưới 90 ngày nhưng doanh nghiệp phát hành trái phiếu có nợ xấu tại TCTD đó; (iii) Khoản ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết, uỷ thác cấp tín dụng mà TCTD bán nợ chịu rủi ro đã quá hạn thanh toán một phần hoặc toàn bộ nợ gốc, lãi từ 90 ngày trở lên; hoặc chưa quá hạn hoặc quá hạn dưới 90 ngày nhưng doanh nghiệp phát hành trái phiếu, bên nhận uỷ thác, đối tượng thụ hưởng của ủy thác có nợ xấu tại TCTD đó. Thứ hai, khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm; Thứ ba, Khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu phải hợp pháp và có hồ sơ, giấy tờ hợp lệ, cụ thể: (i) Hợp đồng tín dụng, hợp đồng ủy thác, hợp đồng mua trái phiếu doanh nghiệp, hợp đồng bảo đảm phải thể hiện rõ các quyền chủ nợ của TCTD, trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay, bên bảo đảm, bên có nghĩa vụ trả nợ đối với TCTD; (ii) Khoản nợ xấu chưa dùng để bảo đảm nghĩa vụ của TCTD; tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu không có tranh chấp tại thời điểm mua, bán nợ. Thứ tư, khách hàng vay còn tồn tại; Thứ năm, giá trị ghi sổ số dư nợ gốc của khoản nợ xấu hoặc các khoản nợ xấu của một khách hàng vay hoặc các khoản nợ xấu của một nhóm khách hàng vay theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư 19 vào thời điểm bán nợ không thấp hơn 3 tỷ đồng đối với nhóm khách hàng vay và khách hàng vay là tổ chức; không thấp hơn 1 tỷ đồng đối với khách hàng vay là cá nhân hoặc mức khác do Thống đốc NHNN quyết định.

Về các khoản nợ xấu cụ thể được mua bán, Thông tư 19 trao quyền cho VAMC quyết định đối tượng và các khoản nợ xấu cụ thể VAMC mua trong từng thời kỳ trên cơ sở quy định về điều kiện của khoản nợ xấu tại Thông tư 19. Ngoài ra, Thông tư 19 cũng quy định NHNN xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc mua các khoản nợ xấu không đáp ứng đầu đủ các điều kiện nhằm bảo đảm an toàn hoạt động của TCTD và xử lý nhanh nợ xấu.

TCTD được quyền lựa chọn bán các khoản nợ xấu đáp ứng đủ điều kiện cho VAMC. Tuy nhiên, trường hợp TCTD có tỷ lệ nợ xấu từ 3% so với tổng dư nợ tín dụng trở lên trên cơ sở kết quả thanh tra, định giá, kiểm toán độc lập, NHNN có quyền yêu cầu TCTD phải bán nợ cho VAMC để đảm bảo tỷ lệ nợ xấu của TCTD  mức an toàn và áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.

4. Về hồ sơ đề nghị mua nợ bằng TPĐB

Theo quy định tại Thông tư 19, trên cơ sở điều kiện của khoản nợ xấu được mua bán, TCTD rà soát, lập hồ sơ sau đây đề nghị mua nợ gửi VAMC: (i) Giấy đề nghị mua nợ theo mẫu của VAMC; (ii) Danh sách, thông tin về các khoản nợ xấu theo yêu cầu của VAMC; đánh giá thực trạng từng khoản nợ xấu, khách hàng vay mà TCTD đề nghị bán cho VAMC (thời gian đã quá hạn, thực trạng tài chính và hoạt động của khách hàng vay, bên bảo đảm, tài sản bảo đảm, khả năng thu hồi vốn); đề xuất thời hạn của TPĐB tương ứng với từng khoản nợ xấu; (iii) Văn bản cam kết về khoản nợ xấu chưa dùng để bảo đảm nghĩa vụ của TCTD bán nợ, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu không có tranh chấp tại thời điểm mua, bán nợ; (iv) Bản sao hợp đồng tín dụng, hợp đồng ủy thác, hợp đồng mua trái phiếu doanh nghiệp, hợp đồng bảo đảm tài sản do người đại diện hợp pháp của TCTD bán nợ xác nhận; (v) Bản sao hồ sơ, giấy tờ liên quan đến khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm và khách hàng vay, bên bảo đảm, bên có nghĩa vụ trả nợ do người đại diện hợp pháp của TCTD bán nợ xác nhận theo yêu cầu của VAMC.

5. Về trình tự, thủ tục mua nợ xấu bằng TPĐB

Thông tư 19 quy định trình tự, thủ tục mua nợ xấu bằng TPĐB như sau: Thứ nhất, TCTD lập hồ sơ đề nghị mua nợ gửi cho VAMC và chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác, trung thực của hồ sơ. Thứ hai, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị mua nợ của TCTD, VAMC phải tiến hành kiểm tra hồ sơ và yêu cầu TCTD bán nợ bổ sung hồ sơ khi cần thiết. Thứ ba, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, VAMC xem xét, thẩm định tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ và có văn bản trả lời TCTD về việc mua hoặc không mua các khoản nợ xấu. Trường hợp không mua nợ, văn bản trả lời phải nêu rõ lý do. Thứ tư, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản thông báo đồng ý mua nợ của VAMC, TCTD và VAMC tiến hành ký kết hợp đồng mua, bán nợ. Thứ năm, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng mua, bán nợ, TCTD bán nợ phải thông báo cho khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm về nội dung bán nợ để biết và thực hiện nghĩa vụ với VAMC.

Đồng thời, Thông tư 19 cũng quy định trình tự, thủ tục VAMC phát hành TPĐB để mua nợ xấu của các TCTD, việc sử dụng TPĐB của TCTD, cụ thể: (i) Phương án phát hành TPĐB để mua nợ xâu phải được NHNN chấp thuận; (ii) Một TPĐB được phát hành tương ứng với một khoản nợ xấu được mua, bán. Trường hợp khoản nợ xấu được mua là khoản cấp tín dụng hợp vốn, VAMC phát hành TPĐB tương ứng cho từng TCTD tham gia cấp tín dụng hợp vốn; (iii) Mệnh giá TPĐB bằng giá mua của khoản nợ xấu theo quy định; (iv) TPĐB được phát hành dưới hình thức bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử có định danh, chứng chỉ ghi danh và phải lưu ký tại NHNN; (v) TCTD sở hữu TPĐB chỉ được dùng TPĐB để vay tái cấp vốn của NHNN, mua lại khoản nợ xấu đã bán cho VAMC và có trách nhiệm xác định hệ số rủi ro của TPĐB là 20% khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của TCTD...

6. Về điều kiện mua nợ xấu theo giá thị trường của VAMC

Theo Thông tư 19, khoản nợ xấu được VAMC mua theo giá trị thị trường khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây: (i) Khoản nợ xấu đáp ứng các điều kiện đối với khoản nợ được VMAC mua bằng TPĐB quy định tại Thông tư 19; (ii) Được Công ty Quản lý tài sản đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ số tiền mua nợ; (iii) Tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có khả năng phát mại; (iv) Khách hàng vay có triển vọng phục hồi khả năng trả nợ hoặc có phương án trả nợ khả thi.

Đồng thời, Thông tư 19 cũng quy định VAMC phải định giá hoặc thuê tổ chức có chức năng định giá độc lập xác định giá trị khoản nợ xấu mua theo giá thị trường; Phương án mua nợ xấu theo giá thị trường phải được NHNN chấp thuận; Việc mua, bán nợ theo giá trị thị trường được thực hiện theo quy định hiện hành của NHNN về mua, bán nợ áp dụng đối với các TCTD.

7. Tái cơ cấu khoản nợ đã mua của VAMC

Theo Thông tư 19, VAMC có quyền thực hiện nhiều biện pháp tái cơ cấu khoản nợ xấu đã mua, cụ thể như sau:

7.1. Điều chỉnh lãi suất của các khoản nợ xấu

Theo quy định của Thông tư 19, VAMC xem xét, điều chỉnh (giảm) lãi suất đang áp dụng đối với các khoản nợ xấu đã mua về mức lãi suất hợp lý phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng vay, lãi suất trên thị trường và thỏa thuận với khách hàng. Mức lãi suất hợp lý này sẽ được VAMC công bố công khai hàng quý.

Thông tư 19 cũng quy định việc điều chỉnh lãi suất này được VAMC xem xét thực hiện khi khách hàng và khoản nợ xấu đáp ứng các điều kiện sau: (i) Khách hàng hợp tác tốt với VAMC, TCTD được ủy quyền (ii) Khách hàng vay có phương án trả nợ khả thi hoặc phương án cơ cấu lại tài chính, hoạt động khả thi; (iii) Khách hàng vay thực sự khó khăn tạm thời về tài chính và việc giảm lãi suất của khoản nợ xấu góp phần giúp khách hàng vay giảm bớt khó khăn tài chính, phục hồi sản xuất kinh doanh; (iv) Khoản nợ xấu không vi phạm quy định về trường hợp cấm cấp tín dụng tại Điều 126 Luật các tổ chức tín dụng tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng; (v) Khách hàng vay không đang trong quá trình giải thể, phá sản, thu hồi Giấy phép hoạt đông.

7.2. Miễn, giảm lãi phạt, phí, lãi vay đã quá hạn

Theo quy định của Thông tư 19, VAMC xem xét giảm một phần hoặc miễn toàn bộ lãi phạt, phí, lãi vay đã quá hạn thanh toán mà khách hàng vay chưa trả của khoản nợ xấu đã mua khi khoản nợ xấu và khách hàng vay đáp ứng các điều kiện sau đây: (i) Đáp ứng đầy đủ các điều kiện như trường hợp điều chỉnh giảm lãi suất của các khoản nợ xấu đã mua quy định tại khoản 3 Điều 28 Thông tư 19; (ii) Khách hàng vay trả nợ ngay hoặc cam kết trả nợ trong vòng 60 ngày tối thiểu 5% số dư nợ gốc khách hàng vay chưa trả tại thời điểm xem xét miễn, giảm lãi phạt, phí, lãi vay đã quá hạn thanh toán; (iii) Khách hàng vay không đang trong quá trình giải thể, phá sản, thu hồi Giấy phép hoạt động.

7.3. Cơ cấu lại thời hạn trả nợ

Theo Thông tư 19, VAMC xem xét, cơ cấu lại thời hạn trả nợ dưới hình thức điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ đã mua khi khách hàng đáp ứng các điều kiện sau: (i) Khách hàng vay có phương án trả nợ khả thi; (ii) Đối với trường hợp điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi vay, khách hàng vay không có khả năng trả nợ đúng kỳ hạn nợ gốc và/hoặc lãi vay trong phạm vi thời hạn trả nợ đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng ủy thác, hợp đồng mua trái phiếu doanh nghiệp và VAMC đánh giá là có khả năng trả nợ trong các kỳ hạn tiếp theo sau khi được cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ; (iii) Đối với trường hợp gia hạn nợ, khách hàng vay không có khả năng trả hết nợ gốc và/hoặc lãi vay đúng thời hạn trả nợ đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng ủy thác, hợp đồng mua trái phiếu doanh nghiệp và được VAMC đánh giá là có khả năng trả hết nợ trong một khoảng thời gian nhất định sau thời hạn trả nợ đã thỏa thuận; (iv) Đối với khoản nợ xấu được mua bằng TPĐB, thời gian gia hạn nợ đối với khoản nợ xấu không được vượt quá thời hạn còn lại của TPĐB tương ứng với khoản nợ xấu đó; (v) Khách hàng vay không đang trong quá trình giải thể, phá sản, thu hồi giấy phép hoạt động.

7.4. Hỗ trợ tài chính cho khách hàng vay

Theo quy định tại Thông tư 19, sau khi được Thống đốc NHNN chấp thuận, VAMC xem xét áp dụng biện pháp hỗ trợ khách hàng sau: (i) Bảo lãnh cho khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng; (ii) Đầu tư, cung cấp tài chính dưới các hình thức cho vay, mua trái phiếu doanh nghiệp; (iii) Các hình thức đầu tư, cung cấp tài chính khác sau khi được Thống đốc NHNN chấp thuận.

Thông tư 19 cũng quy định VAMC xem xét đầu tư, cung cấp tài chính khi khách hàng vay đáp ứng được các điều kiện sau đây: (i) Khách hàng vay có khả năng phục hồi tốt hoặc có phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư có hiệu quả; (ii Có các biện pháp bảo đảm thu hồi vốn phù hợp cho các khoản đầu tư, cung cấp tài chính; (iii) Phương án đầu tư, cung cấp tài chính bảo đảm sự an toàn, có tính khả thi (đánh giá mức độ rủi ro, hiệu quả kinh tế của khoản đầu tư, cung cấp tài chính, bảo lãnh; nguồn vốn để triển khai; khả năng thu hồi vốn; biện pháp thu hồi vốn; biện pháp bảo đảm an toàn vốn và xử lý rủi ro phát sinh); (iv) Khách hàng vay không đang trong quá trình giải thể, phá sản, thu hồi giấy phép hoạt động; (v) Điều kiện khác theo quy định của VAMC.

Đồng thời, Thông tư 19 cũng quy định VAMC xem xét, bảo lãnh cho khách hàng vay vốn của TCTD khi khách hàng đáp ứng được các điều kiện sau đây: (i) Khách hàng vay có khả năng phục hồi tốt hoặc có phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư mới có hiệu quả; (ii) Khách hàng vay có tài sản bảo đảm hợp pháp cho việc bảo lãnh vay vốn; (iii) Phương án bảo lãnh cho khách hàng vay vay vốn của TCTD bảo đảm sự an toàn và có tính khả thi, trong đó phân tích, đánh giá mức độ rủi ro, hiệu quả kinh tế của khoản đầu tư, cung cấp tài chính, bảo lãnh; nguồn vốn để triển khai; khả năng thu hồi vốn; biện pháp thu hồi vốn; biện pháp bảo đảm an toàn vốn và xử lý rủi ro phát sinh; (iv) Khách hàng vay không đang trong quá trình giải thể, phá sản, thu hồi giấy phép hoạt động; (v) Điều kiện khác theo quy định của VAMC.

Ngoài ra, để bảo đảm an toàn cho VAMC, quyền lợi của TCTD bán nợ, Thông tư 19 cũng quy định tổng mức đầu tư, cung cấp tài chính và bảo lãnh của VAMC đối với một khách hàng không vượt quá 50% vốn điều lệ của VAMC và VAMC phải trao đổi với TCTD bán nợ trước khi thực hiện các biện pháp điều chỉnh (giảm) lãi suất, giảm, miễn lãi phạt, phí, lãi vay đã quá hạn thanh toán, cơ cấu lại thời hạn trả nợ.

8. Về quyền xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm của VAMC

Theo quy định Thông tư 19, VAMC được thực hiện nhiều biện pháp xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, cụ thể như sau:

8.1. Bán nợ xấu đã mua

Theo Thông tư 19, việc bán nợ xấu đã mua của VAMC được thực hiện theo các nguyên tắc sau: (i) Bảo đảm sự công khai, minh bạch; (ii) Bảo đảm sự thỏa thuận và tự nguyện; (iii) Bán khoản nợ xấu theo hình thức đấu giá hoặc chào giá cạnh tranh với sự tham gia của ít nhất 03 người mua không phải là người mua có liên quan với nhau theo quy định của pháp luật. Trường hợp không thể bán khoản nợ xấu theo hình thức đấu giá, chào giá cạnh tranh thì VAMC bán khoản nợ xấu trên cơ sở thỏa thuận trực tiếp với bên mua nợ; (iv) Giá bán nợ là mức giá hợp lý nhất trên cơ sở so sánh với các mức giá chào mua của khoản nợ xấu đó hoặc tham khảo mức giá của khoản nợ xấu có chất lượng tương đương hoặc giá trị khoản nợ xấu do VAMC hay tổ chức có chức năng định giá độc lập xác định để giảm tổn thất trong xử lý nợ xấu.

Riêng đối với việc bán khoản nợ xấu được VAMC được mua bằng TPĐB, VAMC thống nhất với TCTD bán nợ về điều kiện bán khoản nợ xấu trong đó bao gồm giá khởi điểm (trong trường hợp bán nợ theo phương thức đấu giá) và giá bán (trong trường hợp bán nợ theo thỏa thuận trực tiếp với bên mua nợ). Trường hợp TPĐB chưa đến hạn thanh toán, VAMC được bán lại khoản nợ xấu đã mua bằng TPĐB cho TCTD đã bán khoản nợ xấu đó cho VAMC theo nguyên tắc thoả thuận về điều kiện và giá mua, bán nợ.

8.2. Góp vốn điều lệ, vốn cổ phần của khách hàng vay là doanh nghiệp

Theo quy định tại Thông tư 19, VAMC có quyền sử dụng các khoản nợ xấu đã mua và tài sản, nguồn vốn hợp pháp để thực hiện: (i) Chuyển khoản nợ xấu đã mua bằng TPĐB thành vốn điều lệ, vốn cổ phần của khách hàng vay là doanh nghiệp sau khi đã thống nhất với TCTD bán nợ; (ii) Sử dụng tài sản (không bao gồm khoản nợ xấu đã mua bằng TPĐB), nguồn vốn hợp pháp để góp vốn điều lệ, vốn cổ phần của khách hàng vay là doanh nghiệp sau khi được NHNN chấp thuận. Tổng giá trị góp vốn điều lệ, vốn cổ phần không vượt quá vốn điều lệ của VAMC.

Thông tư 19 cũng quy định VAMC góp vốn điều lệ, vốn cổ phần của khách hàng vay khi đáp ứng được các điều kiện sau: (i) Phương án góp vốn điều lệ, vốn cổ phần của khách hàng vay có tính khả thi; (ii) VAMC có quyền tham gia vào quá trình tái cơ cấu khách hàng vay; (iii) Việc góp vốn điều lệ, vốn cổ phần không vi phạm giới hạn góp vốn điều lệ, vốn cổ phần của VAMC; (iv) Khách hàng vay có triển vọng phục hồi về tài chính và hoạt động sau khi được VAMC tham gia góp vốn điều lệ, vốn cổ phần; (v) Khách hàng vay không nằm trong quá trình phá sản, giải thể hoặc thu hồi giấy phép hoạt động.

8.3. Xử lý và bán tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu đã mua

Theo Thông tư 19, VAMC có quyền xử lý tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu đã mua theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 53 và các quy định khác có liên quan của pháp luật. Đối với tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được mua bằng TPĐB, VAMC thống nhất với TCTD bán nợ về (i) Giá bán tài sản bảo đảm trong trường hợp bán theo phương thức thỏa thuận với người mua hoặc giá khởi điểm của tài sản bảo đảm trong trường hợp bán theo phương thức đấu giá;và (ii) Giá trị tài sản bảo đảm đối với trường hợp VAMC nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm. Trong trường hợp này, VAMC phải tự định giá hoặc thuê tổ chức có chức năng định giá độc lập để xác định giá trị thị trường của tài sản bảo đảm làm cơ sở bù trừ nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ.

Ngoài ra, Thông tư 19 cũng có quy định cụ thể về việc VAMC được ủy quyền cho TCTD bán nợ thực hiện một hoặc một số hoạt động quản lý, xử lý nợ xấu, quy định về xử lý số tiền thu hồi nợ, thanh toán TPĐB./.

Nguyễn Lương Trà - PC

 
 
 
 
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa

1. Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng Việt Nam:  Ngày 06/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam - Ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Châu Á. Sự kiện trọng đại này đã mở đầu cho một thời kỳ lịch sử vẻ vang...

Đăng nhập

Thông tin khác

Bộ đếm

  • Đang truy cập: 25
  • Hôm nay: 1693
  • Tháng hiện tại: 35437
  • Tổng lượt truy cập: 2014023

Liên kết Website

Doanh nghiệp và Ngân hàng

Kết nối Doanh nghiệp và Ngân hàng