Một số nội dung chính của Bộ Luật lao động sửa đổi, bổ sung

Đăng lúc: Thứ bảy - 04/05/2013 04:39 - Người đăng bài viết: NHNN-KH
Bộ luật Lao động (sửa đổi) đã được Quốc hội khoá XIII thông qua ngày 18/6/2012, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/5/2013.  Bộ luật Lao động (sửa đổi) gồm 17 chương, 242 điều, tăng 19 điều so với Bộ luật Lao động hiện hành (223 điều) và thu hút được sự quan tâm của xã hội bởi những quy định tiến bộ về tuổi nghỉ hưu, mức lương tối thiểu, chế độ nghỉ thai sản, tiền làm thêm giờ và số giờ làm thêm của người lao động…
 
 Theo Bộ luật Lao động (sửa đổi), số giờ làm thêm của người lao động bảo đảm không quá 50% số giờ làm việc chính thức trong 1 ngày, trong trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 1 ngày; không quá 30 giờ trong 1 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 1 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 1 năm. Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động được nghỉ bù cho số thời gian đã không được nghỉ.
 
Về thời gian nghỉ thai sản của lao động nữ, Luật quy định lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con 6 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 2 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 1 tháng. Lao động nữ nghỉ sinh con trước ngày Bộ luật này có hiệu lực, mà đến ngày 01/5/2013 vẫn đang trong thời gian nghỉ sinh con theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 ngày 29/6/2006 thì thời gian hưởng chế độ khi sinh con được thực hiện theo quy định của Bộ luật này. BHXH Việt Nam cũng vừa ban hành văn bản số 1477 hướng dẫn chế độ theo quy định của Bộ Luật lao động sửa đổi, theo đó lao động nữ có nguyện vọng nghỉ việc trước khi sinh con (thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 2 tháng), người sử dụng lao động phải ghi rõ thời điểm nghỉ việc trước khi sinh con để theo dõi và làm căn cứ thực hiện chế độ thai sản theo quy định. Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định, nếu có nhu cầu, có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe và được người sử dụng lao động đồng ý, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất 4 tháng. Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
 
Về quy định tuổi nghỉ hưu, vẫn giữ nguyên độ tuổi là 55 với nữ và 60 tuổi với nam như quy định hiện hành. Với người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thuộc danh mục do Chính phủ quy định có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn so với quy định. Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể  nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 5 năm so với quy định. Chính phủ sẽ có quy định chi tiết các khoản mục này.
 
 Về chế độ nghỉ hằng năm,  người lao động có đủ 12 tháng làm việc thì được nghỉ hằng năm (chế độ nghỉ phép năm) và được hưởng nguyên lương, cụ thể như sau: 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường, 14 ngày làm việc đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có có điều kiện sinh sống khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành hoặc lao động chưa thành niên hoặc lao động là người khuyết tật; 16 ngày làm việc đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống đặc biệt khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành. Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm. Cứ 05 năm làm việc thì số ngày nghỉ hằng năm của người lao động theo quy định của Bộ luật Lao động được tăng thêm tương ứng 01 ngày.

Về quy định các ngày nghỉ lễ, tết,  người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết sau đây: Tết Dương lịch 01 ngày (ngày 01 tháng 01 dương lịch);  Tết Âm lịch 05 ngày;  Ngày Chiến thắng 01 ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch);  Ngày Quốc tế lao động 01 ngày (ngày 01 tháng 5 dương lịch); Ngày Quốc khánh 01 ngày (ngày 02 tháng 9 dương lịch);  Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 01 ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch).  Nếu những ngày nghỉ theo quy định của Bộ Luật lao động trùng vào ngày nghỉ hằng tuần, thì người lao động được nghỉ bù vào ngày kế tiếp.

Về chế độ nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương,  người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong những trường hợp sau đây:  Bản thân kết hôn: nghỉ 03 ngày;  Con kết hôn: nghỉ 01 ngày;  Bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ, mẹ vợ hoặc bố chồng, mẹ chồng chết; vợ chết hoặc chồng chết; con chết: nghỉ 03 ngày. Người lao động được nghỉ không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sử dụng lao động khi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột chết; bố hoặc mẹ kết hôn; anh, chị, em ruột kết hôn.
 
Kể từ thời điểm Bộ luật Lao động (sửa đổi) có hiệu lực thi hành, các hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, những thoả thuận hợp pháp khác đã giao kết và những thoả thuận có lợi hơn cho người lao động so với quy định của Bộ luật này được tiếp tục thực hiện; những thoả thuận không phù hợp với quy định của Bộ luật phải được sửa đổi, bổ sung.
 
 Mọi thông tin chi tiết khác quy định tại các điều khoản của Bộ Luật lao động sửa đổi được đăng tải (đính kèm) tại trang Thông tin điện tử nội bộ của Chi nhánh, đề nghị cán bộ công chức nghiên cứu để thực hiện đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người lao động.

Nội dung nguyên văn của Bộ Luật Lao động (sửa đổi)
CV 1477/BHXH-CSXH ngày 23/4/2013 của BHXHVN về hướng dẫn thực hiện chế độ thai sản theo Bộ luật Lao động
Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Thái
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa

1. Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng Việt Nam:  Ngày 06/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam - Ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Châu Á. Sự kiện trọng đại này đã mở đầu cho một thời kỳ lịch sử vẻ vang...

Đăng nhập

Thông tin khác

Bộ đếm

  • Đang truy cập: 34
  • Khách viếng thăm: 29
  • Máy chủ tìm kiếm: 5
  • Hôm nay: 230
  • Tháng hiện tại: 36198
  • Tổng lượt truy cập: 1820451

Liên kết Website

Doanh nghiệp và Ngân hàng

Kết nối Doanh nghiệp và Ngân hàng